ARTICLE AD BOX
Các cường quốc dầu mỏ vùng Vịnh từng tìm nhiều phương án để thoát phụ thuộc khỏi tuyến "độc đạo" qua eo biển Hormuz, nhưng đều chưa khả thi.
Chiến tranh Iran - Iraq bùng nổ năm 1980 đã châm ngòi cho "Cuộc chiến Tàu dầu", khi Tehran nhắm đến các tàu dầu trung lập, đặc biệt là của Kuwait, trung gian vận chuyển dầu cho Iraq, đi qua eo biển Hormuz.
Biến cố này đã thúc đẩy các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ ở Trung Đông tìm cách giảm bớt rủi ro liên quan eo biển Hormuz. Họ triển khai các hệ thống ống dẫn dầu, tìm tuyến vận tải thay thế và lên kế hoạch thực hiện những dự án đào kênh quy mô lớn, nhằm giảm phụ thuộc vào "nút cổ chai" chiến lược này.
Giàn khoan dầu của công ty dầu khí quốc doanh Aramco ở mỏ ngoài khơi tỉnh Eastern, miền đông Arab Saudi tháng 5/2020. Ảnh: AFP
Xây dựng đường ống
Năm 1981, Arab Saudi bắt đầu xây dựng Đường ống Dầu thô Đông - Tây (Petroline) dài 1.200 km cắt ngang quốc gia này. Petroline gồm hai đường ống đường kính 1,2 m và 1,4 m kết nối các khu phức hợp lọc dầu Abqaiq ở tỉnh Eastern sang cửa ngõ xuất khẩu Yanbu bên bờ Biển Đỏ.
Petroline ban đầu có công suất 5 triệu thùng một ngày (bpd). Đến năm 2019, sau khi nhóm Houthi ở Yemen tập kích UAV vào các cơ sở lọc dầu ở Abqaiq, Arab Saudi đã chuyển đổi các đường ống khí đốt song song Petroline thành ống dẫn dầu, nâng công suất khẩn cấp lên 7 triệu bpd.
Hồ sơ cho thấy Petroline được Arab Saudi xây dựng với vai trò "van giảm áp", không nhằm thay thế hoàn toàn tuyến vận chuyển dầu qua Hormuz. Lý do là việc xây dựng một hệ thống đường ống thay thế hoàn toàn tàu chở dầu qua eo biển Hormuz là không hiệu quả về kinh tế. Arab Saudi khi đó cũng tin rằng nguy cơ gián đoạn toàn diện với dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz sẽ "không bao giờ trở thành hiện thực".
Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) cũng có tính toán tương tự. Nước này xây dựng Đường ống Dầu thô Abu Dhabi (ADCOP), còn gọi là đường ống Habshan - Fujairah, dài 380 km kết nối mỏ dầu Habshan trong đất liền đến cảng Fujairah ở Vịnh Oman.
ADCOP có chi phí 4,2 tỷ USD, bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2012, công suất danh nghĩa 1,5 triệu bpd, tương đương 60% lượng xuất khẩu dầu của UAE. Điều này đồng nghĩa 40% lượng dầu xuất khẩu còn lại của UAE vẫn phải đi qua Hormuz.
Cả Arab Saudi và UAE đều dựa trên lập luận là Iran, quốc gia nằm ở bờ bắc eo biển, cũng có lợi ích trong việc giữ Hormuz mở cửa, bởi chính họ cũng xuất khẩu dầu qua tuyến đường này. Họ cũng tin rằng trong mọi kịch bản eo biển bị đóng cửa, tình trạng này sẽ chỉ kéo dài vài ngày, tệ nhất là vài tuần. Thị trường toàn cầu có thể hấp thụ những cú gián đoạn ngắn hạn nhờ rút dầu từ kho dự trữ chiến lược.
Vị trí đường ống Đông - Tây và đường ống Habshan-Fujairah. Đồ họa: WSJ
Nhưng giới phân tích cho rằng lập luận này chỉ phù hợp nếu các bên hành xử theo logic kinh tế thuần túy. Thực tế địa chính trị đã cho thấy điều ngược lại, khi các quốc gia có thể chấp nhận thiệt hại kinh tế để đạt được mục tiêu chiến lược lớn hơn và Iran đang thể hiện rõ điều đó.
Sau khi bị Mỹ - Israel tập kích hôm 28/2 khiến nhiều lãnh đạo chính trị và quân sự thiệt mạng, Iran tuyên bố phong tỏa Hormuz để đáp trả, tấn công tàu hàng có liên quan đến Washington và Tel Aviv đi qua vùng biển để gây sức ép ngược trở lại. Các hạn chế trong tính toán của Arab Saudi và UAE nhanh chóng bộc lộ.
Đường ống Petroline có thể vận chuyển đến 7 triệu bpd, nhưng hai bến cảng ở Yanbu chỉ có tổng công suất xử lý khoảng 4,5 triệu bpd, theo Argus Media. Công ty tư vấn năng lượng Vortexa ước tính trong điều kiện thời chiến, cảng Yanbu chỉ xử lý được khoảng 3 triệu bpd.
Naveen Das, nhà phân tích về dầu mỏ tại tổ chức chuyên theo dõi tàu dầu Kpler, ngày 12/3 nói ADCOP chỉ đang hoạt động với 71% công suất thiết kế, cho thấy hạ tầng tiếp nhận tại cảng Fujairah cũng gặp hạn chế.
Một yếu tố khác làm lung lay các tính toán cũ là sự thay đổi trong cách thức tiến hành chiến tranh. Việc tấn công hạ tầng năng lượng quy mô lớn trước đây đòi hỏi nguồn lực đáng kể và khó duy trì trong thời gian dài. Với sự phát triển của UAV giá rẻ, các cuộc tấn công giờ đây có thể được thực hiện với chi phí thấp mà hiệu quả vẫn đáng kể.
Không chỉ đe dọa nhắm mục tiêu tàu dầu đi qua Hormuz, Iran còn tập kích vào hạ tầng năng lượng các nước láng giềng, trả đũa Mỹ - Israel tấn công kho dầu của Tehran. Mục tiêu Iran nhắm đến là những điểm quan trọng trong hệ thống đường vòng mà các nước vùng Vịnh xây dựng, như cảng và kho chứa, từ đó vô hiệu hóa toàn bộ mạng lưới vận chuyển dầu của họ.
Iran đến nay đã phóng UAV tấn công cảng Duqm, cảng Salalah ở Oman, cảng dầu Fujairah, cơ sở lọc dầu Ruwais ven vịnh Ba Tư của UAE cùng các mục tiêu tương tự ở Arab Saudi, Bahrain, Kuwait và Qatar.
"Iran đáp trả nhanh chóng và trên diện rộng nhằm vào vận tải biển cũng như hạ tầng năng lượng, cảng biển và kinh tế trong khu vực, cắt đứt một động mạch quan trọng của chuỗi cung ứng toàn cầu", Torbjorn Soltvedt, chuyên gia Trung Đông của tổ chức tư vấn Verisk Maplecroft, nhận định.
Một thiếu sót nữa trong phương án đường ống trên bộ của Arab Saudi và UAE là chúng được xây dựng chỉ để vận chuyển dầu thô, không phải phục vụ toàn bộ các sản phẩm năng lượng lưu thông qua Hormuz, như diesel, nhiên liệu máy bay, naphtha.
Vị trí bán đảo Musandam và eo biển Hormuz. Đồ họa: Al Jazeera
Theo Arne Lohmann Rasmussen, trưởng bộ phận phân tích của Global Risk Management, khoảng 30% lượng diesel và một nửa lượng nhiên liệu máy bay nhập khẩu của châu Âu đều đến từ Trung Đông.
"Đây thực chất là một cuộc khủng hoảng sản phẩm lọc dầu, khủng hoảng nhiên liệu máy bay và diesel, đặc biệt là ở châu Âu", ông Rasmussen trả lời Middle East Eye.
Ellen Wald, nhà sáng lập Transversal Consulting, chỉ ra một thế lưỡng nan khác của Arab Saudi.
"Nếu đường ống Đông - Tây được chuyển sang vận chuyển toàn bộ dầu thô xuất khẩu thì nó sẽ không thể chuyển khí tự nhiên hay các sản phẩm hóa dầu khác", bà Wald nói. Nói cách khác, đường ống kiểu "van giảm áp" này giờ lại buộc nhà vận hành phải lựa chọn giữa khủng hoảng dầu thô hay các mặt hàng khác.
Đào kênh thay thế
Cuộc khủng hoảng hiện tại cho thấy các nước vùng Vịnh khó thoát phụ thuộc hoàn toàn vào eo biển Hormuz. Muốn làm được điều đó, họ sẽ phải xây nhiều đường ống lớn như Petroline và cảng xuất khẩu hoàn toàn mới, những thứ không thể hình thành trong ngày một ngày hai.
Ngoài Petroline và ADCOP, vùng Vịnh còn có một đường ống khác kết nối từ Kirkuk, Iraq đến cảng Ceyhan của Thổ Nhĩ Kỳ trên Địa Trung Hải, công suất tiềm năng lên đến 1,6 triệu bpd. Phó thủ tướng Iraq Hayyan Abdul Ghani Al-Sawad ngày 16/3 cho biết đường ống đang trong giai đoạn thử nghiệm cuối cùng và kỳ vọng có thể chuyển 250.000 bpd tới Ceyhan trong vòng một tuần nữa.
Tuy nhiên, tổng công suất các đường ống dẫn dầu từ vùng Vịnh như vậy hiện tại chỉ đạt khoảng 3,5-5,5 triệu bpd, thấp hơn nhiều so với 15-17 triệu bpd được vận chuyển qua eo biển Hormuz trước chiến sự, khoảng cách quá lớn để lấp đầy trong ngắn hạn.
Tỷ phú, nhà công nghiệp hàng đầu Ấn Độ Harsh Goenka đề xuất một phương án táo bạo khác là các nước vùng Vịnh sẽ chuyển dầu khỏi tàu lên cảng Oman trước khi đến eo biển Hormuz. Số dầu này sau đó được chuyển bằng xe bồn qua Oman rồi bơm trở lại lên tàu khác ở bờ biển Arab. Từ đây, dầu có thể được vận chuyển an toàn qua Ấn Độ Dương.
Đây cũng là hướng đi UAE từng nghiên cứu hồi năm 2008. Nhưng khác với Goenka, nước này khi đó dự định xây siêu kênh đào 200 tỷ USD để các tàu dầu có thể "đi tắt" qua eo biển Hormuz ra biển Arab.
Một số người thậm chí còn đề xuất xây kênh đào có độ dài khoảng 48-80 km xuyên qua bán đảo Musandam của Oman để "đi tắt" qua eo biển Hormuz. Kênh đào này
Tuy nhiên, những ý tưởng như vậy vấp phải nhiều hoài nghi do yếu tố địa hình và chi phí. Để đào kênh xuyên bán đảo Musandam, các đơn vị thi công sẽ phải tìm phương án chinh phục những đỉnh núi cao hơn 2.000 m của dãy Hajar, nơi có địa hình núi đá hiểm trở.
Điều này có thể khiến "siêu dự án" tiêu tốn tới 50 tỷ USD và mất 10-20 năm thi công, phương án được cho là bất khả thi vào thời điểm này. Đây là lý do UAE trong gần 20 năm qua không còn đề cập đến dự án.
Dãy núi Hajar của UAE. Ảnh: Moccae
"Nhiều nghiên cứu đã được đưa ra, nhưng không có gì chắc chắn", một quan chức cấp cao UAE nói.
Vì vậy, khi cuộc chiến với Iran kéo dài, Mỹ đang tính đến phương án quân sự để giữ eo biển mở, như hộ tống tàu hoặc hỗ trợ bảo hiểm cho các hãng vận tải, cách họ từng làm trong Chiến tranh Iran - Iraq. Tuy nhiên, tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều và hiệu quả không còn chắc chắn như trước.
Như Tâm (Theo ENR, Firstpost, The Times)

5 nhiều giờ trước kia
2







Vietnamese (VN) ·