
Các nhà khoa học trẻ vẫn luôn được tạo điều kiện và kỳ vọng sẽ góp phần thay đổi trình độ khoa học - công nghệ của quốc gia - Ảnh: TRẦN HUỲNH
Những người trở về thường mang theo tri thức và kỹ năng, chuẩn mực làm việc và minh bạch, văn hóa phản biện và chủ động, cách tổ chức cùng mạng lưới hợp tác quốc tế…
Có thể thấy kỳ vọng đặt lên họ là rất lớn nhưng cũng có một số ít người sau vài năm đã không còn "giữ lửa" như ban đầu, không còn là chất xúc tác để tạo ra những chuyển biến rõ rệt về chất lượng nghiên cứu cũng như phong cách làm việc trong tập thể mới.
Câu hỏi được đặt ra là vì sao và các nhà khoa học cần điều kiện gì để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao theo kinh nghiệm quốc tế?
Một hệ thống khoa học mạnh không phải là nơi có nhiều người giỏi mà là nơi người giỏi
có thể hợp tác hỗ trợ nhau, làm việc hiệu quả và phát triển lâu dài.
Khi nhà khoa học bị phân tâm
Ngay cả ở nhiều nước, có những nhà khoa học trở về với nhiều kế hoạch nghiên cứu lớn song chỉ sau một thời gian ngắn họ sẽ phải đối mặt với thực tế khác với nơi họ được đào tạo.
Những khó khăn ở nơi mới có thể bao gồm thủ tục phức tạp, khó mua sắm, tài trợ nhỏ và ngắn hạn, lẻ loi vì thiếu đồng đội trao đổi hay hợp tác. Cùng lúc đó họ phải vừa giảng dạy vừa nghiên cứu để xuất bản nhiều bài báo.
Ban đầu, họ có thể vẫn cố gắng theo đuổi những kế hoạch lớn nhưng dần theo thời gian, một số người trong họ có thể hạ bớt mục tiêu, làm những đề tài nhỏ, ngắn hạn, ít rủi ro. Kết quả là có những đóng góp nhưng không tạo ra đột phá đáng kể. Đây không phải là thất bại cá nhân mà là vấn đề của hệ thống chưa thay đổi kịp để phục vụ những con người mới và yêu cầu phát triển mới.
Giai đoạn xây nền
Ở nhiều nước, sự hòa nhập trong năm đầu của các nhà khoa học được coi là vô cùng quan trọng. Các cơ sở tiếp
nhận thường có người hướng dẫn (mentor) và tổ chức các hoạt động giúp họ như làm thủ tục và xúc tác kết nối với các đồng nghiệp.
Giai đoạn từ 3-5 năm đầu là để xây nền cho phát triển lâu dài như tạo nhóm nghiên cứu, kết nối mạng lưới hợp tác, xác lập hướng lớn dài hạn và tìm nguồn tài trợ. Nhà khoa học khó có nghiên cứu giá trị cao khi phải giảng dạy nhiều giờ ở bậc ĐH. Các trường ĐH lớn thường giảm tải giảng dạy, nhất là trong những năm đầu.
Tuy nhiên về lâu dài thì cần phát triển đội ngũ giảng dạy chuyên trách. Ngoài ra các trường ĐH thường cung cấp điều kiện đồng bộ cho các nhà khoa học mới với khoản đầu tư ban đầu lớn, phòng thí nghiệm dùng máy móc chung, giảm tải giảng dạy, thêm vào bộ phận phục vụ và mạng lưới đồng nghiệp hợp tác.
Phát triển kỹ năng mềm và văn hóa học thuật
Một nhà khoa học giỏi chưa chắc đã là một trưởng nhóm giỏi nếu thiếu các kỹ năng cần thiết. Họ không chỉ nghiên cứu mà còn phải xây dựng nhóm, quản lý con người, hợp tác đa ngành, lắng nghe ý kiến phản biện.
Ở nhiều nơi, nhà khoa học được đào tạo về kỹ năng lãnh đạo, quản lý dự án, giao tiếp và xây dựng hợp tác. Đội ngũ hỗ trợ cũng được đào tạo để làm việc hiệu quả với nhà khoa học.
Một môi trường học thuật lành mạnh đòi hỏi sự chủ động, cởi mở và tôn trọng phản biện. Sinh viên dám hỏi, nhà khoa học dám phản biện, tranh luận tôn trọng và trao đổi với nhau sẽ có nhiều cơ hội học hỏi, hợp tác để thực hiện đề tài nghiên cứu đa ngành giá trị cao.
Trong bất kỳ hệ thống nào cũng có những cá nhân thành công và dùng chính điển hình này minh chứng hệ thống đang hoạt động tốt. Tuy nhiên để nghiên cứu khoa học thành công một cách bền vững rất cần thay đổi các yếu tố đang cản trở sự phát triển của số đông các nhà khoa học khác.
Vai trò của lãnh đạo: từ quản lý sang kiến tạo
Theo kinh nghiệm quốc tế, lãnh đạo viện và trường ĐH đóng vai trò quyết định trong định hướng phát triển chung, hướng nghiên cứu trọng điểm trong 5-10 năm tới hay lâu hơn, cùng với xây dựng và phát triển đội ngũ các nhà khoa học, bộ máy và cơ chế quản lý cũng như cơ sở vật chất.
Ngoài mục tiêu nâng cao hiệu quả, chất lượng, họ cần tạo điều kiện cho đổi mới, bảo vệ người làm khoa học trước rào cản hành chính, khuyến khích thử nghiệm và chấp nhận rủi ro.
Họ có thể khuyến khích các nhà khoa học thử nghiệm cách quản lý mới cho nhóm của họ và cách tổ chức các hoạt động liên nhóm, liên ngành, liên trường, liên quốc gia với kết quả thực chất thay vì chỉ là hoạt động bề nổi.
Thay đổi đồng bộ từ cơ chế đến văn hóa và từ cá nhân đến hệ sinh thái sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận lợi cho tất cả các nhà khoa học, kể cả nhà khoa học hồi hương, góp phần vào sự phát triển khoa học của đất nước trong những năm tới.
Đổi mới quản lý và tài trợ
Một trong những rào cản lớn là khối lượng giấy tờ và quy trình phê duyệt, kiểm soát mọi chi tiêu đã được duyệt thay vì đặt trọng tâm phục vụ nghiên cứu. Cần thay đổi tư duy quản lý từ kiểm soát vi mô bằng thủ tục sang kiểm soát bằng kết quả, từ phê duyệt chi tiết qua trao quyền có điều kiện với cơ chế kiểm soát tại cơ sở.
Các cơ hội tài trợ cần được thông báo sớm trước thời hạn và rộng rãi để các nhà khoa học chuẩn bị và nộp đề án, cạnh tranh sòng phẳng bằng năng lực chuyên môn. Các chủ nhiệm đề tài cần nhận được phản biện chi tiết từ các hội đồng xét duyệt để biết cần phải thay đổi và làm gì nhằm nâng cao chất lượng khi thực hiện đề tài.
Xây dựng đội ngũ nhóm nghiên cứu và hỗ trợ
Theo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu sinh tiến sĩ và sau tiến sĩ (postdoc) là lực lượng chủ lực thực hiện phần lớn công việc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và truyền lại kỹ năng cho thế hệ sau.
Thiếu tầng này nhà khoa học phải tự làm sẽ thiếu thời gian, thiếu ý tưởng mới để có thể nâng cao quy mô và chất lượng nghiên cứu. Rất cần xây dựng đội ngũ nhiều tầng từ sinh viên ĐH đến postdoc để tạo ra năng lực bền vững cho cả hệ thống.
Trong nhiều môi trường nghiên cứu tiên tiến, nhà khoa học không phải tự mình xử lý các vấn đề tài chính (dự toán, giải ngân), quản lý khoa học và pháp lý (hợp đồng, sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ). Việc này có một đội ngũ hỗ trợ chuyên nghiệp và có cơ chế phản hồi từ nhà khoa học để cải thiện hiệu quả phục vụ của đội ngũ này.

15 nhiều giờ trước kia
3




Vietnamese (VN) ·